Chuyến bay định mệnh của golfer huyền thoại Payne Stewart

Ngày 25/10/1999, chiếc phản lực tư nhân cất cánh từ phi trường quốc tế Orlando đi Texas, chở theo Payne Stewart - đương kim vô địch US Open. Nhưng nó không bao giờ đến đích.

Từ trên không, máy bay lao thẳng xuống mặt đất, cách điểm hạ cánh hơn 1.600 km. Hai phi công và bốn hành khách thiệt mạng. Cú đâm mạnh đến nỗi máy bay tan tành, mọi thứ vụn vỡ ngoài sức tưởng tượng của các điều tra viên và vượt quá khả năng tái dựng hiện trường để tìm hiểu nguyên nhân.

Máy bay rơi sau khi mất áp suất khoang. Hành khách không còn oxy để thở. Các chiến đấu cơ quần thảo trên bầu trời để theo dấu chuyến bay nhưng bất lực trong nỗ lực can thiệp.

Payne Stewart là nạn nhân trong chuyến bay định mệnh này. Lúc đó, ông là một trong những golfer nổi tiếng nhất hành tinh, hình tượng có sức lôi cuốn đặc biệt với một sự nghiệp đa sắc màu trong một thế giới golf đỉnh cao vốn khoác bộ cánh sáng choang ánh kim đơn điệu.

Stewart luôn nổi bật, từ thời trẻ khi chọn kiểu "quần độc" làm phong cách trang phục đặc trưng trong thi đấu. Đó là kiểu quần dài quá gối 10 cm, rộng thùng thình nhưng túm ở ống xuất hiện trong những năm 1920. Nó là sản phẩm phái sinh từ kiểu quần thể thao knickerbockers phổ biến trong những năm 1860. Là dân kinh doanh, bố của Stewart thường dạy rằng "khác biệt là rất quan trọng".

Payne Stewart lúc sinh thời.

Payne Stewart lúc sinh thời.

Cất cánh từ Orlando, Stewart đến đấu trường Tour Championship dành cho 30 golfer xuất sắc PGA Tour thời ấy. Trên đường đi, ông định tranh thủ ghé Dallas để thảo luận về dự án thiết kế sân golf. Lúc ấy, Stewart là chủ nhân của 11 danh hiệu PGA Tour, trong đó ba major gồm PGA Championship 1989, US Open 1991 và 1999 cùng tổng thu nhập từ tiền thưởng giải đạt 12,67 triệu USD kể từ khi khởi nghiệp năm 1982.

Tháp tùng ông là hai người đại diện Robert Fraley và Van Ardan, kiến trúc sư sân golf Bruce Borland. Tổ lái gồm Michael Kling và Stephanie Bellegarrigue. 

Kevin Robins, tác giả cuốn "The Last Stand of Payne Stewart" vừa được xuất bản gần đây nói: "Thật lạ khi không ít người còn nhớ họ ở đâu, làm gì vào ngày xảy ra bi kịch đó". Về phần mình, lúc ấy, Robins là phóng viên của một tờ báo tại St Louis, bang Misouri. Ông cùng mọi người trong toà soạn vây quanh chiếc tivi để theo dõi tình hình. "Cảnh tượng rất sốc, như muốn hoá đá người xem. Một máy bay trên không trung, rất cao, rơi tự do, và rồi không biết nó có đâm xuống thành phố không. Chẳng ai biết cả. Có rất nhiều câu hỏi và không có câu trả lời".

Trước chuyến bay cuối cùng, chiếc Learjet 35 N47BA vận hành bình thường trong chặng ngắn từ Sanford đến phi trường Orlando.

Khi Stewart và đoàn tuỳ tùng yên vị trong khoang hành khách, máy bay cất cánh lúc 9h19 theo hướng dẫn của bộ phận kiểm soát mặt đất. Sau các thủ tục thường lệ khi máy bay rời khỏi mặt đất, kiểm soát không lưu Jacksonville liên lạc với phi công Bellagarrigue để hướng dẫn máy bay đạt độ cao tối ưu 39.000 feet (tương đương 11,88 km). Chỉ thị được phi công xác nhận. Nhưng đó cũng là những lời cuối nghe được trong khoang lái. Trong vòng hai phút, kiểm soát không lưu phát hiện máy bay có dấu hiệu chệch lộ trình vì vẫn theo hướng Bắc thay vì chuyển sang hướng Tây để đi Dallas. Họ liên lạc với phi công nhưng không được phản hồi. Hơn 30 phút sau lần liên lạc cuối, một chiến đấu cơ F16 cất cánh với lệnh truy dấu vết chiếc LearJet.

Cơ quan hàng không liên bang hiểu rằng có bất trắc nên đã dọn sạch hành lang không phận xung quanh máy bay, trong khi nó tiếp tục trôi về về hướng Bắc trong chế độ tự lái.

Phi công Hamilton của chiếc F16 bắt kịp mục tiêu trên bầu trời Memphis, bang Tennessee. Ở khoảng cách dao động từ 15 m đến 30 m, anh đạt tầm nhìn đủ rõ để xem xét tình hình. Vỏ máy bay nguyên vẹn nhưng bên trong không có dấu hiệu của sự sống. Hamilton phát tín hiệu báo cáo sơ bộ rằng: "Khoang lái có vẻ đóng băng. Tôi không thể nhìn vào bên trong".

Các cửa sổ đóng băng cho thấy hệ thống điều hoà áp suất để cấp oxy không hoạt động. Những người trên máy bay hẳn bị thiếu oxy trong máu. Thêm một số chiếc F16 được lệnh lên bầu trời. Lúc này, các mạng lưới tin tức cắt ngang chương trình đã định để đưa tin về vụ việc khi biết một golfer chuyên nghiệp có mặt trên chuyến bay mất kiểm soát. Họ xác định được đó là Payne Stewart.

Caddie của Stewart là Mike Hicks đã sẵn sàng thị sát mặt sân của Tour Championship. Anh nhận được tin báo từ người quen là một huấn luyện viên golf. Hicks không tin đó là sự thật.

Ở sân Champions Golf Club tại Houston, mọi việc vẫn yên ắng. Một số đấu thủ đến sớm. Các ngôi sao như David Duval và Jim Furyk đang tập luyện trong khi ban tổ chức dựng trung tâm báo chí và các tiện ích khác. Nhà báo Melania Hauser mới vào bãi đỗ xe dành cho phóng viên. Cô biết Stewart đã 22 năm, từ khi golfer này còn theo học và thi đấu cho Đại học Southern Methodist ở Texas.

Hauser hồi tưởng: "Nghe tin, tôi nghĩ không thể nào là Payne. Cố gắng chứng minh các bản tin sai sự thật, chúng tôi gọi vào số điện thoại của anh ấy và chỉ có giọng nói vô cảm tự động phát trong hộp thư thoại. Rồi ai đó đi qua và nói chắc chắn là Payne rồi. Tôi gục đầu trên vai Duval và bật khóc. Tôi sắp phải viết về bi kịch của Payne rồi".

Chiếc LearJet bay trên bầu trời Florida, Mississippi, Tennessee, Missouri – nơi Stewart chào đời và Iowa. Nó ở độ cao gần 14 km so với mặt đất South Dakota trong lúc động cơ đang ở quá trình ngốn khoảng 2,4 tấn nhiên liệu.

Sau giữa trưa giờ địa phương của South Dakota, LearJet bắt đầu rơi với điểm tiếp đất dự kiến là thị trấn Mina. Nó xoay vòng, lộn nhào tự do theo phương thẳng đứng tiệm cận tốc độ âm thanh sau 3 giờ 45 phút cất cánh. Cú đâm tạo thành một hố dài 12 m, rộng 6,4 m, sâu 2,4 m. Chiếc LearJet 23 năm tuổi tan tành.

Stewart từ giã cõi đời ở tuổi 42, khi ở đỉnh cao phong độ. Cái chết của ông để lại niềm tiếc thương vô hạn trong thế giới golf. Mọi người đã quen với hình ảnh Stewart vận "chiếc quần ngộ nghĩnh", nụ cười thường trực trên môi với chiếc mũ bê-rê trên đầu. Phong thái lôi cuối của Stewart khiến báo giới thời ấy ví ông như một sao Hollywood nổi loạn trong làng golf đỉnh cao. Khi ông mất, xem như golf mất một nghệ sĩ tài hoa.

Trở lại Tour Championship ở Champions Golf Club, 29 đấu thủ còn lại tạm dừng thi đấu để đến dự tang lễ của Stewart. Họ trở lại đánh vòng cuối, hầu hết mặc chiếc quần ngộ nghĩnh vốn trở thành thương hiệu của đồng nghiệp đã nằm xuống, trước khi Tiger Woods đăng quang.

US Open năm 2000 trên sân Pebble Beach ở California trở thành giải đầu tiên có đương kim vô địch quá cố. Tại đây, 21 ngôi sao hàng đầu thế giới đã đánh bóng vào Thái Bình Dương như một lời chào đồng điệu vĩnh biệt đồng nghiệp Stewart.

Một kiểu ăn mừng đặc trưng, sau này trở thành biểu tượng, của Stewart. Ảnh: BBC.

Một kiểu ăn mừng đặc trưng, sau này trở thành biểu tượng, của Stewart. Ảnh: BBC.

Truyền thống của golf đòi hỏi lịch thiệp, tao nhã, quyến rũ nhưng theo tác giả Robbins, Payne Stewart không có những phong thái đó "mà trái lại, ăn to nói lớn, khoa trương, bốc đồng". Thế nhưng rất nhiều người yêu golf trong những năm 1990 hâm mộ Stewart.

Danh hiệu major đầu tiên trong sự nghiệp của Stewart năm 1989 ở Kemper Lakes, bang Illinois không được tán dương rộng rãi. Điều đó có thể thấy qua màn ảnh truyền hình, lúc đối thủ Mike Reid chúc mừng với vẻ khinh thường dù thua trận.

Hai năm sau đó, ông có thêm US Open. Mọi thứ dường như tiền định để golfer này thống trị trong suốt những năm 1990. Tuy nhiên, vì phong độ thất thường và sau khi nhận khoản tiền lớn để đổi sang thương hiệu gậy mới, những đường bóng kì diệu của ông cũng biến mất.

Năm 1998, Stewart là á quân US Open sau khi thất thủ trước Lee Janzen. Ông rời sân ở trong niềm tiếc nuối bằng vẻ mặt bình thản. Năm 1999, bốn tháng trước thảm hoạ, Stewart thành công ở đấu trường danh giá này sau cú gạt bóng từ cự li 4,5 m trên sân Pinehurst, thắng Phil Mickelson lúc đó đang được xem là "tuổi trẻ tài cao". Có major thứ ba trong sự nghiệp, ông tung nắm đấm tay phải về phía trước đồng thời đá chân phải về phía sau. Động tác này trở thành biểu tượng trong sự nghiệp của Stewart và được lưu giữ bằng bức tượng vinh danh ông ở sân Pinehurst.

Thắng lợi đó cũng giúp Stewart trở thành tuyển thủ Mỹ đấu Ryder Cup 1999 tại The Country Club ở Brookline, ngoại ô thành phố Boston. Trong lần đại chiến với tuyển châu Âu cách đây 20 năm, tuyển Mỹ phải lội ngược dòng dù thi đấu trên đất nhà.

Colin Montgomerie của tuyển châu Âu đấu đối kháng cá nhân với Stewart trong cảnh bị khán giả Mỹ nhục mạ. Chính Stewart đã yêu cầu đưa khán giả quá khích rời sân để đối thủ ổn định tâm lý. Khi cả hai lên đến green hố 18, tuyển Mỹ đã thắng sau khi đạt 14 1/2 dù bị dẫn trước ở điểm 6-10.

Stewart vẫn còn có thể hoà hố cuối trong cuộc so tài với Montgomerie. Tuy nhiên, ông đã không làm thế. Montgomerie kể: "Stewart lên green sau ba gậy, còn tôi chỉ dùng hai gậy. Anh ấy nói: 'Này Monty, tôi nghĩ đủ rồi, cứ nhặt bóng đi. Và rồi anh ấy nhận phần thua về mình".

Hoàng hôn chiếu qua bức tượng của Stewart đặt trên green hố 18 của sân Số Hai ở Pinehurst - nơi ông đoạt US Open 1999. Ảnh: BBC.

Hoàng hôn chiếu qua bức tượng của Stewart đặt trên green hố 18 của sân Số Hai ở Pinehurst - nơi ông đoạt US Open 1999. Ảnh: BBC.

Cơ quan điều tra không thể đưa ra một bản kết luận thấu đáo về nguyên nhân vụ tai nạn cướp đi sinh mạng của nhà vô địch major và bốn người tháp tùng. Năm 2005, toà án Orlando ra phán quyết chiếc Learjet không có lỗi và huỷ vụ kiện cùng yêu cầu bồi thường 200 triệu USD.

Quốc Huy (theo BBC)

► Nguồn: vnexpress.net
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5